Bệnh Lây Qua Đường Tình Dục

DỊCH VỤ KHÁM BỆNH TẠI NHÀ

Nhiều bệnh lây truyền qua đường tình dục dễ dàng truyền nhiễm thông qua các màng nhầy của dương vật, âm hộ, trực tràng, đường tiểu một số đường khác nhưng ít phổ biến hơn (tùy thuộc vào loại nhiễm trùng): miệng, họng, đường hô hấp và mắt. Màng nhầy khác với làn da ở chỗ chúng cho phép một số tác nhân gây bệnh vào cơ thể, các tác nhân gây bệnh cũng có thể đi qua những chỗ da bị rách hoặc tổn thương. Dương vật đặc biệt dễ bị tổn thương do ma sát trong quá trình quan hệ tình dục. Trung Tâm Bác Sĩ Gia Đình chúng tôi phục vụ khám tận nhà và hỗ trợ điều trị các bệnh do lây truyền qua đường tình dục.

CHI TIẾT DỊCH VỤ

Phát hiện và điều trị sớm bệnh lây qua đường tình dục sẽ giúp làm giảm sự lây nhiễm bệnh, đồng thời có thể tránh hoặc làm chậm các biến chứng và hậu quả nghiêm trọng.

Nhiễm chlamydia sinh dục là loại STD do vi khuẩn thường gặp nhất ở những quốc gia giàu nguồn lực; nhiều cá nhân mắc bệnh không có triệu chứng. Hiện có sẵn các kỹ thuật chẩn đoán không nuôi cấy như xét nghiệm khuếch đại axit nucleic (NAAT). Việc không điều trị hoặc điều trị không đầy đủ đặt ra nguy cơ nhiễm trùng ngược dòng và các biến chứng khác, cũng như lây nhiễm sang bạn tình.

Biểu hiện điển hình là tiết dịch niệu đạo ở nam giới; phụ nữ thường không có triệu chứng nhưng có thể có tiết dịch âm đạo. Nếu không điều trị, Neisseria gonorrhoeae có thể lan tỏa gây ra nhiễm trùng da và khớp; các biến chứng hiếm gặp hơn bao gồm viêm màng não, viêm nội tâm mạc và áp-xe quanh gan. Tỷ lệ kháng kháng sinh cao đã được báo cáo và điều trị kháng sinh cần được định hướng bởi các hướng dẫn của địa phương và quốc gia.

Bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp, do vi khuẩn spirochete gây nên. Biểu hiện lâm sàng thường không có triệu chứng, nhưng có thể biểu hiện theo nhiều cách. Chẩn đoán thường không phức tạp sau khi khám lâm sàng và xét nghiệm huyết thanh; điều trị bằng penicillin. Bệnh giang mai không được điều trị tạo điều kiện lây truyền HIV và gây ra tỷ lệ tàn tật đáng kể, chẳng hạn như bệnh tim mạch và thần kinh.

Biểu hiện tiên phát khi nhiễm trùng là viêm dương vật hoặc âm hộ không đau và loét ở bộ phận sinh dục hoặc hậu môn không đau mà bệnh nhân thường không nhận thấy. Viêm mạn tính có thể để lại sẹo và xơ hóa gây phù nề bạch huyết vùng sinh dục, hoặc hình thành chít hẹp và lỗ rò nếu tổn thương vùng hậu môn trực tràng. Chẩn đoán xác định bằng định danh Chlamydia trachomatis từ mẫu phết loét sinh dục hoặc dịch chọc hạch.

Bệnh lây truyền qua đường tình dục do cầu trực khuẩn gram âm Haemophilus ducreyi, khó mọc, thường gặp ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ gây nên. Thường biểu hiện khởi phát cấp bằng loét sinh dục đau, và thường có viêm hạch bạch huyết (hình thành sưng bạch hạch). Bệnh hạ cam là một yếu tố đồng thời quan trọng trong lây truyền HIV và phải đánh giá tình trạng HIV. Hầu hết các ca bệnh thuyên giảm với điều trị kháng sinh; và hiếm khi tái phát.

Một tình trạng nhiễm tạp khuẩn cấp đường sinh dục ngược dòng ở phụ nữ thường do Neisseria gonorrhoeae hoặc Chlamydia trachomatis gây nên. Viêm vùng tiểu khung bao gồm viêm nội mạc tử cung, viêm vòi trứng, áp-xe vòi-buồng trứng và viêm phúc mạc tiểu khung. Có thể không có triệu chứng hoặc biểu hiện sốt, nôn, đau lưng, đau khi giao hợp, đau/khó chịu vùng bụng dưới, mùi âm đạo bất thường, ngứa, chảy máu hoặc tiết dịch. Điều trị kháng sinh thường nhắm vào lậu, chlamydia và vi khuẩn kỵ khí.

Neisseria gonorrhoeae và Chlamydia trachomatis là các nguyên nhân thường gặp nhất; Mycoplasma genitalium và Trichomonas vaginalis ít gặp hơn. Các xét nghiệm chẩn đoán bao gồm nhuộm Gram và nuôi cấy dịch niệu đạo và xét nghiệm khuếch đại axit nucleic (NAAT).

Thường gặp và thường không có triệu chứng, nhưng nếu không được chẩn đoán hoặc điều trị có thể dẫn đến viêm tiểu khung (PID), một tình trạng có thể dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng, lâu dài, chẳng hạn như vô sinh và đau tiểu khung mạn tính. Mặc dù Neisseria gonorrhoeae và Chlamydia trachomatis là những căn nguyên phân lập thường gặp nhất, nhưng hầu hết trường hợp đều không định danh được vi sinh vật gây bệnh.

Có thể do nhiễm khuẩn âm đạo, bệnh trichomoniasis hoặc nhiễm nấm candida.

Ở nam giới hoạt động tình dục (dưới <35 tuổi), nguyên nhân thường gặp nhất của viêm mào tinh hoàn là Neisseria gonorrhoeae hoặc Chlamydia trachomatis. Ở nam giới lớn tuổi hơn, các căn nguyên gây bệnh thường là các căn nguyên đường ruột và viêm mào tinh hoàn có thể liên quan đến tắc nghẽn đường ra của bàng quang, đặt dụng cụ đường tiết niệu gần đây hoặc bệnh toàn thân. Điều trị dựa trên các biện pháp hỗ trợ kết hợp với kháng sinh phù hợp.

Dạng tổn thương niêm mạc sinh dục do vi-rút phổ biến nhất, do nhiễm nhiều loại vi-rút gây u nhú ở người (HPV). Tổn thương là các u nhú từ 1 đến 3 mm, màu hồng, hơi trắng hoặc giảm sắc tố, rải rác, không cuống, bề mặt nhẵn hoặc có thể kết tụ thành các mảng lớn. Chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng.

Do một loại retrovirus gây nên, vi-rút này lây nhiễm và nhân lên trong tế bào lympho và đại thực bào ở người, gây suy giảm sự toàn vẹn của hệ thống miễn dịch ở người trong nhiều năm. Chẩn đoán được xác định bằng xét nghiệm kháng thể HIV và được khẳng định bằng xét nghiệm đặc hiệu hơn. Bệnh nhân cần được xác định giai đoạn lâm sàng theo các tiêu chí của WHO hoặc CDC.

Biện pháp dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) giảm khả năng lây truyền HIV đến 80% khi dùng trong vòng 72 giờ sau khi phơi nhiễm và thời gian đủ 28 ngày như chỉ định. Cần phải cân bằng lợi ích của biện pháp dự phòng sau phơi nhiễm (PEP) với độc tính và các tác dụng bất lợi tiềm ẩn; tư vấn là một bước quan trọng trong kiểm soát bệnh nhân.

Bệnh ác tính do vi-rút gây u nhú ở người (HPV) gây nên, có thể phòng ngừa bằng cách tiêm vắc-xin HPV, sàng lọc và điều trị loạn sản mức độ cao. Xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung, sau đó là soi cổ tử cung có thể chẩn đoán bệnh tiền xâm lấn. Bệnh tiến triển khu trú có thể có biểu hiện chảy máu, tiết dịch, đau hoặc tắc nghẽn đường tiết niệu.

Hầu hết mọi người mắc viêm gan B đều không có triệu chứng mặc dù một số người sẽ có biểu hiện biến chứng như xơ gan, ung thư biểu mô tế bào gan hoặc suy gan. Những người từ các vùng dịch lưu hành, hoặc tiêm chích ma túy và những người có hành vi tình dục nguy cơ cao có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn. Các dấu ấn huyết thanh rất quan trọng trong chẩn đoán và đánh giá mức độ hoạt động của bệnh, bao gồm phân biệt giữa những người mắc bệnh cấp tính và mạn tính và người mang bệnh mạn tính không có triệu chứng.

Con đường lây truyền Viêm Gan C thường gặp nhất là thông qua tiêm chích ma túy (dùng chung kim tiêm) và truyền các sản phẩm máu bị nhiễm bệnh. Hầu hết các ca nhiễm bệnh đều không có triệu chứng; tuy nhiên, viêm gan thường biểu hiện và có thể dẫn đến xơ gan tiến triển. Mục tiêu điều trị là loại bỏ vi-rút và đạt được khả năng đáp ứng vi-rút bền vững. Liệu pháp điều trị đã chuyển từ sử dụng pegylated interferon sang liệu pháp kháng vi-rút đường uống. Biến chứng lâu dài bao gồm xơ gan hoặc ung thư biểu mô tế bào gan.

Dịch tiết âm đạo là một trong những lý do thường gặp nhất dẫn đến thăm khám phụ khoa. Tỷ lệ lưu hành thực tế của tình trạng này không chắc chắn do viêm âm đạo, vốn bao gồm cả triệu chứng tiết dịch âm đạo, thường không có triệu chứng, tự chẩn đoán và tự điều trị. Căn nguyên gây bệnh bao gồm các nguyên nhân nhiễm trùng và không phải nhiễm trùng.

CAM KẾT CỦA CHÚNG TÔI

Dịch vụ Khám Bệnh Lây Qua Đường Tình Dục tại nhà của chúng tôi được đảm nhiệm bởi các Bác Sĩ có tay nghề cao trải qua nhiều năm kinh nghiệm làm việc. Bạn có thể yêu cầu Bác Sĩ cung cấp thẻ hành nghề, giấy chứng nhận hoặc các giấy tờ chứng minh khác.

Chúng tôi cam kết thực hành Khám Bệnh Lây Qua Đường Tình Dục với tinh thần tận tâm và thoải mái cho bạn và gia đình bằng cách đúng hẹn, đúng các hạng mục khám và đúng kết quả. Tuyệt đối không có tình trạng phát sinh thêm chi phí hoặc các gợi ý bồi dưỡng thêm cho Bác Sĩ thực hiện khám.

Việc thực hiện Khám Bệnh Lây Qua Đường Tình Dục tại nhà sẽ giúp bạn có được sự chủ động trong việc sắp xếp thời gian chăm sóc sức khỏe. Chúng tôi cần có sự hợp tác của bạn trước khi tiến hành dịch vụ ví dụ như đúng hẹn, tuân thủ lời dặn của Bác Sĩ trước khi tiến hành khám sức khỏe…